Thông tin y tế trên các báo ngày 22/3/2021

Đã có 33.891 người được tiêm vắc xin AstraZeneca tại 16 tỉnh, thành phố

Theo tin từ Bộ Y tế, tính từ 18h ngày 21-3 đến 6h ngày 22-3, nước ta không ghi nhận ca mắc mới. Ngoài ra, có thêm 1.530 người được tiêm vắc xin Covid-19 của AstraZeneca trong ngày 21-3, nâng tổng số người được tiêm lên con số 33.891.

Như vậy, tính đến 6h ngày 22-3, tổng số ca mắc Covid-19 tại nước ta vẫn là 2.572 ca, trong đó có 1.601 ca lây nhiễm trong nước.

Tính từ ngày 27-1 đến nay, nước ta ghi nhận 908 ca mắc mới do lây nhiễm trong cộng đồng, tại 13 tỉnh, thành phố: Hải Dương, Quảng Ninh, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hòa Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Điện Biên, Gia Lai, Hà Giang và Bình Dương.

Riêng tại Hà Nội, từ ngày 16-2 đến nay chưa ghi nhận thêm ca mắc mới trong cộng đồng.

Còn tại tỉnh Hải Dương đã bước sang ngày thứ 4 chưa ghi nhận ca mắc Covid-19 trong cộng đồng.

Tại tỉnh Quảng Ninh, từ 0h ngày 22-3 tạm dừng hoạt động của các chốt kiểm soát dịch Covid-19 đối với phương tiện, người ra vào tỉnh và mở lại các hoạt động kinh doanh có điều kiện trên cơ sở thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của trung ương, tỉnh về công tác phòng, chống dịch Covid-19 trong trạng thái bình thường mới. Quyết định trên của tỉnh Quảng Ninh được đưa ra dựa trên căn cứ diễn biến dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh và các tỉnh, thành phố giáp ranh đã được kiểm soát và nhằm tạo thuận lợi tối đa cho việc thực hiện “mục tiêu kép” năm 2021.

Cũng theo Bộ Y tế, tính đến 6h ngày 22-3, tổng số người tiếp xúc gần và nhập cảnh từ vùng dịch đang được theo dõi sức khỏe (cách ly) là 37.174 người, trong đó có 490 người cách ly tập trung tại bệnh viện, 17.990 người cách ly tập trung tại cơ sở khác và số còn lại cách ly tại nhà, nơi lưu trú. Đến nay, nước ta đã có 2.198 ca được điều trị khỏi, 35 ca tử vong.

Theo thông tin từ Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia, tính từ ngày 8-3 đến 16h ngày 21-3, tổng cộng đã tiêm vắc xin phòng Covid-19 cho 33.891 người tại 16 tỉnh, thành phố: Hải Dương, Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Gia Lai, Long An, Đà Nẵng, Hòa Bình, Khánh Hòa, Hà Giang, Điện Biên, Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương.

Những người được tiêm đều là cán bộ, nhân viên y tế đang trực tiếp điều trị bệnh nhân Covid-19, các nhân viên y tế thực hiện các nhiệm vụ như lấy mẫu bệnh phẩm, xét nghiệm, truy vết, thành viên các tổ Covid-19 cộng đồng và Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch. Bộ Y tế khuyến cáo, sau khi tiêm vắc xin Covid-19 vẫn cần tiếp tục thực hiện đầy đủ “thông điệp 5K” (Khẩu trang – Khử khuẩn – Khoảng cách – Không tập trung – Khai báo y tế) phòng, chống dịch Covid-19.

(hanoimoi.com.vn)

Bệnh nhân COVID -19 đối mặt với nguy cơ đột quỵ cao hơn

Một nghiên cứu mới bổ sung thêm bằng chứng cho thấy bệnh nhân COVID-19 có thêm nguy cơ đột quỵ.

Các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu của hơn 20.000 người trưởng thành ở Mỹ nhập viện với COVID-19 từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2020. Phân tích cho thấy nguy cơ đột quỵ của họ cao hơn so với những bệnh nhân mắc các loại bệnh nhiễm trùng khác, bao gồm cả bệnh cúm.

Những phát hiện này cho thấy COVID-19 có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ, mặc dù cơ chế chính xác của điều này vẫn chưa được biết. TS Saate Shakil, Đại học Washington cho biết.

Nghiên cứu cho thấy 1,4% bệnh nhân COVID bị đột quỵ được xác nhận bằng chẩn đoán hình ảnh. Trong đó, 52,7% bị đột quỵ do thiếu máu cục bộ (do máu lên não bị tắc nghẽn); 45,2% bị đột quỵ chảy máu hoặc không xác định được loại đột quỵ; và 2,5% có cơn thiếu máu cụ bộ thoáng qua (còn gọi là đột quỵ nhỏ hoặc TIA).

Bệnh nhân đột quỵ ở bệnh viện trung bình 22 ngày, nhiều hơn 12 ngày so với bệnh nhân không bị đột quỵ. Tử vong khi nhập viện ở bệnh nhân đột quỵ cao hơn gấp đôi (37%) so với những người không bị đột quỵ (16%).

Khi đại dịch tiếp tục, các nhà khoa học nhận thấy, coronavirus không chỉ là một bệnh đường hô hấp mà còn là một bệnh mạch máu có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, hệ thống…

(suckhoedoisong.vn)

Mối liên quan giữa đái tháo đường và tăng huyết áp

Tỷ lệ tăng huyết áp ở người đái tháo đường type 2 tăng 2,5 lần so với người không mắc bệnh này. Ngược lại, khoảng 50% số người đái tháo đường đồng thời bị tăng huyết áp.

Theo TS.BS Phạm Trần Linh – Trưởng Khoa Điều trị trong ngày, Viện Tim mạch Quốc gia, Bệnh viện Bạch Mai, đái tháo đường và cao huyết áp là hai bệnh lý riêng biệt, tuy nhiên chúng có mối liên hệ mật thiết lẫn nhau.

Thống kê cho thấy, tỷ lệ tăng huyết áp ở người đái tháo đường type 2 tăng 2,5 lần so với người không mắc bệnh này. Ngược lại, khoảng 50% số người đái tháo đường đồng thời bị tăng huyết áp (trong đó, 25% ở người trẻ và 75% người lớn tuổi).

Nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ở người đái tháo đường bị tăng huyết áp gấp đôi so với người đái tháo đường có chỉ số huyết áp bình thường. Và ngược lại đái tháo đường cũng làm cho tăng huyết áp trở nên khó điều trị hơn.

Tăng huyết áp khiến đường huyết tăng cao, làm bệnh nhân đái tháo đường bị biến chứng nhanh hơn và gia tăng tỷ lệ tử vong. Nguyên nhân do tăng huyết áp cản trở dòng máu được lưu thông tới thận (gây tác động tới đái tháo đường); gây biến chứng võng mạc, mù lòa, mắc bệnh ký ở thận.

Bác sĩ Phạm Trần Linh cho biết, phương pháp điều trị, kiểm soát tăng huyết áp và đái tháo đường (nhất là đái tháo đường type 2) có nhiều nét tương đồng, bổ trợ lẫn nhau. Vậy nên, người bị tăng huyết áp lẫn đái tháo đường không nên vội bi quan. Chỉ cần nghiêm túc tuân thủ chỉ dẫn của bác sĩ, bạn sẽ dễ dàng kiểm soát 2 bệnh này, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho chính bản thân mình.

– Chế độ dinh dưỡng lành mạnh: Điều quan trọng với người mắc 2 bệnh trên là trong chế độ ăn cần lưu ý một số điểm như: tăng khẩu phần rau củ quả trong bữa ăn hằng ngày, chọn các sản phẩm nguyên hạt, ít béo, hạn chế sử dụng muối và đường trong nấu nướng, tinh bột cũng sẽ chuyển hóa thành đường trong cơ thể, thế nên cần cân bằng lượng tinh bột giữa các bữa ăn.

– Tích cực rèn luyện thể lực: Thường xuyên vận động thân thể và rèn luyện thể lực là lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân tăng huyết áp lẫn đái tháo đường vì vừa giảm lượng glucose huyết trong cơ thể, vừa cân bằng huyết áp trong giới hạn cho phép. Nên hướng đến các bài tập có cường độ trung bình như đi bộ nhanh, đạp xe, bơi lội,… trong 30-40 phút, 4-5 lần mỗi tuần.

– Dùng thuốc đều đặn theo chỉ định của bác sĩ: Bên cạnh phương pháp thay đổi lối sống, trong một số trường hợp, bác sĩ có thể yêu cầu dùng thêm thuốc điều trị. Nếu mắc cả 2 bệnh trên, nên đến bác sĩ để được tư vấn, chỉ định thuốc phù hợp nhằm đạt hiệu quả điều trị cao nhất. Khi có chỉ định, người bệnh cần uống thuốc đều đặn, thường xuyên hàng ngày, không được tự ý bỏ thuốc giữa chừng, khiến huyết áp và đường huyết tăng vọt sẽ rất nguy hiểm./.

(vov.vn)

Khi nào được coi là phản ứng phản vệ sau tiêm?

Phản ứng phản vệ được coi là phản ứng nặng sau tiêm chủng. Khi nào có thể coi là phản ứng phản vệ và cần làm gì khi gặp những phản ứng như vậy? Phản vệ sau tiêm vắc xin nguy hiểm thế nào?

Cẩn thận hội chứng sốc phản vệ

Trong cuộc họp trực tuyến toàn quốc của Thường trực Chính phủ với Ban Chỉ đạo quốc gia và các địa phương mới đây, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết Việt Nam đã thực hiện tiêm chủng cho tổng cộng 20.695 cán bộ, nhân viên y tế.

Trong đó, 4.078 trường hợp có phản ứng thông thường sau tiêm. Số phản ứng nặng chỉ có 5 người phản vệ độ 2 và 1 trường hợp phản vệ độ 3. Các trường hợp này được xử lý và đều đã ổn định sức khỏe.

Riêng tại TP.HCM, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP.HCM cùng ngày thông tin trong 824 nhân viên y tế tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP.HCM đã được tiêm vắc xin có 6 trường hợp có triệu chứng khác: 1 ca huyết áp kẹp, 2 ca tiêu chảy độ trung bình và 3 ca phản ứng phản vệ độ 2. Tất cả được điều trị kịp thời, diễn tiến ổn định, xuất viện sau 24 giờ.

Bộ Y tế cho hay tiêm vắc xin là đưa kháng nguyên từ mầm bệnh để kích thích hệ miễn dịch và phát triển miễn dịch đặc hiệu chống lại mầm bệnh mà không gây ra bệnh liên quan đến mầm bệnh.

Theo ông Trần Minh Điển, phó giám đốc Bệnh viện Nhi trung ương, phản ứng sau tiêm chủng là hiện tượng đáp ứng miễn dịch của cơ thể với vắc xin. Đa số phản ứng này là nhẹ, rất hiếm phản ứng nặng (hội chứng nhiễm độc, hội chứng sốc phản vệ).

Phản vệ là một phản ứng dị ứng, có thể xuất hiện ngay lập tức vài giây, vài phút đến vài giờ sau khi cơ thể tiếp xúc với dị nguyên (yếu tố lạ như thức ăn, thuốc… có khả năng gây dị ứng cho cơ thể) gây ra các bệnh cảnh lâm sàng, có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng. Sốc phản vệ là mức độ nặng nhất của phản vệ do đột ngột giãn toàn bộ hệ thống mạch và co thắt phế quản, có thể gây tử vong trong một vài phút.

Để đảm bảo xử trí kịp thời phản ứng sau tiêm chủng, Bộ Y tế đề nghị các điểm tiêm chủng đều có trang thiết bị phòng chống sốc và xử trí cấp cứu với các trường hợp tai biến sau tiêm chủng. Các đội cấp cứu lưu động thường xuyên túc trực để hỗ trợ các điểm tiêm trong trường hợp cần thiết.

Việc triển khai tiêm chủng phải thực hiện theo đúng quy trình chặt chẽ, an toàn, hiệu quả. Người được tiêm chủng được theo dõi tại chỗ 30 phút sau khi tiêm, sau đó lên phòng bệnh theo dõi tiếp trong 24 giờ và sau khi về nhà thì tiếp tục theo dõi, thông báo ngay cho cơ quan y tế khi có bất kỳ phản ứng phụ nào xảy ra để được chẩn đoán và xử trí kịp thời.

4 mức phản ứng sau tiêm

Có 4 mức độ phản vệ nhanh diễn tiến nặng. Phản vệ độ 2 có thể nhanh chóng chuyển sang độ 3, 4 nhưng cũng có khi mức độ phản vệ nặng lên rất nhanh và không theo tuần tự, cần phải khẩn trương xử trí.

* Mức nhẹ (độ I): chỉ có các triệu chứng da, tổ chức dưới da và niêm mạc như mày đay, ngứa, phù mạch.

* Mức nặng (độ II): có từ 2 biểu hiện ở nhiều cơ quan: mày đay, phù mạch xuất hiện nhanh; khó thở nhanh nông, tức ngực, khàn tiếng, chảy nước mũi; đau bụng, nôn, tiêu chảy; huyết áp có thể tăng, nhịp tim nhanh hoặc loạn nhịp.

* Mức nguy kịch (độ III): biểu hiện ở nhiều cơ quan với mức độ nặng hơn gồm: đường thở (tiếng rít thanh quản, phù thanh quản), thở (nhanh, khò khè, tím tái, rối loạn nhịp thở); rối loạn ý thức (vật vã, hôn mê, co giật); tuần hoàn (sốc, mạch nhanh nhỏ, tụt huyết áp).

* Mức độ IV với biểu hiện ngừng hô hấp, ngừng tuần hoàn.

Trong số các trường hợp gặp phản ứng sau tiêm ngừa COVID-19 thời gian qua là mức độ nhẹ, có khoảng 0,7% là phản ứng phản vệ. Trong các trường hợp phản ứng phản vệ (độ 2 và 3), chỉ có 1 người phản ứng độ 3, còn lại là độ 2.

(tuoitre.vn)

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.