Thông tin y tế trên các báo ngày 04/3/2021

Sáng 4-3: Việt Nam không có ca nhiễm Covid-19 mới

Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 cho biết, sáng 4-3, Việt Nam không phát hiện thêm ca mắc Covid-19. Đến nay, Việt Nam có 2.482 bệnh nhân Covid-19 và hiện đã có 1.898 ca được công bố khỏi bệnh.

Tính từ 18 giờ ngày 3-3 đến 6 giờ ngày 4-3, Việt Nam không ghi nhận ca mắc mới Covid-19. Tính đến 6 giờ ngày 4-3, cả nước vẫn có 2.482 bệnh nhân, trong đó có 1.566 ca mắc Covid-19 do lây nhiễm trong nước.

Số lượng ca mắc mới do lây nhiễm trong nước tính từ ngày 27-1 đến nay là 873 ca. Trong đó, riêng Hải Dương có 689 ca, Quảng Ninh (61 ca), Gia Lai (27 ca), Hà Nội (34 ca), Bắc Ninh (năm ca), Bắc Giang (hai ca), TP. Hồ Chí Minh (36 ca ), Hoà Bình (hai ca), Hà Giang (một ca), Điện Biên (ba ca), Bình Dương (sáu ca), Hải Phòng (bốn ca ), Hưng Yên (ba ca).

10 tỉnh, thành phố đã qua 19 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới Covid-19 trong cộng đồng gồm: Hòa Bình, Điện Biên, Hà Giang, Bình Dương, Hưng Yên, Bắc Giang, Gia Lai, Bắc Ninh, Quảng Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh.

Hà Nội đã bước sang ngày thứ 16 không có ca bệnh Covid-19 mắc mới tại cộng đồng. Tại Hải Phòng, tính từ ca bệnh mắc gần nhất đến nay đã chín ngày, thành phố này không có ca bệnh Covid-19 mắc mới tại cộng đồng.

Theo báo cáo của Tiểu ban Điều trị, đến thời điểm này nước ta đã chữa khỏi 1.898 bệnh nhân Covid-19. Trong số các bệnh nhân Covid-19 đang điều trị tại các cơ sở y tế, số ca âm tính lần 1 với virus SARS-CoV-2 là 66 ca; Số ca âm tính lần 2 với SARS-CoV-2 là 37 ca, số ca âm tính lần 3 là 113 ca.

Trong số các bệnh nhân đang điều trị tại các cơ sở y tế, có đến 82,5% không có biểu hiện lâm sàng; số biểu hiện lâm sàng nhẹ chiếm 14,7% và hiện còn BN1536 đang điều trị tại BV Phổi Đà Nặng là bệnh nhân nặng nhất, nhưng hiện đã không còn phải can thiệp ECMO và đã có nhiều tiến triển rõ rệt về sức khoẻ.

Tính đến hết ngày 3-3, toàn thế giới đã ghi nhận 115.722.872 ca nhiễm virus SARS-CoV-2 gây bệnh Covid-19, trong đó có 2.569. 926 ca tử vong. Số bệnh nhân được điều trị khỏi bệnh là 91.373.522 người.

Quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất vẫn là Mỹ với 531.296 ca tử vong trong tổng số 29.443.219 ca mắc Covid-19. Tiếp đó là Ấn Độ với 157.471 ca tử vong trong số 11.156.748 ca mắc Covid-19. Brazil ở vị trí thứ 3 với 259.271 ca tử vong trong số 10.718.630 bệnh nhân. Hiện Brazil đang đối mặt với làn sóng dịch bệnh mới trong khi các hệ thống y tế đều đang đứng trước nguy cơ quá tải.

(nhandan.com.vn)

Những điều cần biết về vắc-xin COVID-19

Nhóm chuyên gia tư vấn chiến lược (SAGE) về tiêm chủng của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra khuyến cáo tạm thời về việc sử dụng vắc-xin COVID-19 của Oxford/AstraZeneca COVID-19 (AZD1222). Theo đó, khuyến cáo đưa ra các trường hợp ưu tiên và những trường hợp không nên tiêm…

Những đối tượng cần được ưu tiên tiêm phòng COVID-19 trước

Trong khi nguồn cung ứng vắc-xin còn hạn chế, khuyến cáo đưa ra là cần ưu tiên tiêm phòng cho cán bộ y tế là những người có nguy cơ cao phơi nhiễm bệnh và người cao tuổi, bao gồm những người từ 65 tuổi trở lên.

Những người có bệnh lý nền do họ được xác định là có nguy cơ mắc COVID-19 nặng hơn, trong đó có các bệnh như béo phì, bệnh tim mạch, bệnh hô hấp và đái tháo đường cũng là đối tượng được ưu tiên.

Mặc dù cần phải tiến hành thêm nghiên cứu trên những người đang chung sống với HIV hoặc mắc bệnh tự miễn, hoặc những người bị suy giảm miễn dịch, những người này, nếu nằm trong các nhóm được khuyến cáo tiêm vắc-xin, có thể được tiêm phòng vắc-xin sau khi được cung cấp thông tin và tư vấn.

Việc tiêm vắc-xin phòng COVID-19 có thể được dành cho những người đã từng mắc COVID-19. Nhưng những cá nhân này có thể hoãn việc tiêm phòng COVID-19 khoảng 6 tháng sau khi nhiễm SARS-CoV-2 để trao cơ hội cho những người khác cần gấp hơn.

Việc tiêm vắc-xin phòng COVID-19 có thể được dành cho phụ nữ đang cho con bú nếu họ thuộc nhóm ưu tiên được tiêm. WHO không khuyến cáo ngưng cho con bú mẹ sau tiêm phòng COVID-19.

Phụ nữ mang thai có cần phải tiêm phòng?       

Phụ nữ mang thai có thể được tiêm phòng vắc-xin nếu lợi ích của việc tiêm phòng ở phụ nữ mang thai lớn hơn nguy cơ tiềm ẩn do vắc-xin. Vì lý do này, phụ nữ mang thai có nguy cơ cao phơi nhiễm với virus SARS-CoV-2 (ví dụ, cán bộ y tế) hoặc người mắc bệnh nền tăng nguy cơ mắc bệnh nặng, có thể được tiêm vắc-xin phòng bệnh sau khi được cán bộ y tế tư vấn.

Những ai được khuyến cáo không tiêm vắc-xin này?

Những người có tiền sử có phản ứng dị ứng nặng với bất cứ thành phần nào của vắc-xin thì không nên tiêm. Vắc-xin này không khuyến cáo dùng cho người dưới 18 tuổi nhưng còn phải chờ kết quả của các nghiên cứu tiếp theo.

Liều tiêm theo khuyến cáo như thế nào?

Liều khuyến cáo là 2 liều, tiêm bắp (0,5ml mỗi liều), các liều cách nhau 8-12 tuần.

Cần nghiên cứu thêm để hiểu rõ khả năng bảo vệ lâu dài sau liều đơn.

Vắc-xin có hiệu lực như thế nào?

Vắc-xin AZD1222 phòng COVID-19 có hiệu lực 63,09% trên những người nhiễm SARS-CoV-2 có triệu chứng.

Khoảng cách giữa các liều dài hơn trong khoảng thời gian từ 8-12 tuần có liên quan đến hiệu quả vắc-xin cao hơn.

Vắc-xin có hiệu quả đối với biến thể mới của virus?

SAGE đã đánh giá mọi dữ liệu hiện có về hiệu lực của vắc-xin trong bối cảnh xuất hiện các biến thể gây lo ngại. Hiện tại SAGE khuyến cáo sử dụng vắc-xin AZD1222 theo Lộ trình Ưu tiên của WHO, thậm chí ngay cả khi các biến thể của virus đã xuất hiện ở quốc gia đó. Các nước cần đánh giá rủi ro, lợi ích và cân nhắc tình hình dịch tễ trong nước.

Các phát hiện ban đầu cho thấy nhu cầu cấp bách cần phải có cách tiếp cận phối hợp trong giám sát và đánh giá sự xuất hiện các biến thể virus và tác động tiềm ẩn của chúng đối với hiệu quả vắc-xin. Khi có số liệu mới, WHO sẽ cập nhật các khuyến cáo phù hợp.

Vắc-xin có phòng ngừa được việc mắc và lây truyền bệnh?

Chưa có nhiều số liệu về tác động của vắc-xin AZD1222 đối với việc lây truyền hay phóng thích virus. Trong thời gian này, chúng ta cần duy trì và tăng cường các biện pháp y tế công cộng đã được chứng minh hiệu quả: đeo khẩu trang, giữ khoảng cách tiếp xúc, rửa tay, vệ sinh hô hấp và ho, tránh nơi đông người, và đảm bảo thông thoáng khí…

 (suckhoedoisong.vn)

Toàn thế giới đã ghi nhận hơn 115,7 triệu ca nhiễm virus SARS-CoV-2

Quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất vẫn là Mỹ với 29.452.886 ca nhiễm, trong đó có 531.466 ca tử vong; trong 24 giờ qua, số ca tử vong tại nước này là 2.164.

Theo trang thống kê worldometers.info, cập nhật đến 8h sáng 4/3 (theo giờ Việt Nam), toàn thế giới đã ghi nhận 115.743.688 ca nhiễm virus SARS-CoV-2 gây bệnh COVID-19, trong đó có 2.570.380 ca tử vong.

Trong 24 giờ qua, số ca tử vong mới được ghi nhận trên toàn thế giới là 10.425 ca. Tính đến nay, số bệnh nhân được điều trị khỏi bệnh là 91.213.320 người.

Quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất vẫn là Mỹ với 29.452.886 ca nhiễm, trong đó có 531.466 ca tử vong. Trong 24 giờ qua, số ca tử vong tại nước này là 2.164.

Tiếp đó là Ấn Độ với 11.156.748 ca mắc COVID-19, trong đó 157.471 ca tử vong. Sau nhiều ngày số ca nhiễm mới tính theo ngày giảm xuống mức trên dưới 10.000, 24 giờ qua, số ca mắc mới tăng lên 17.425/ngày.

Brazil ở vị trí thứ 3 với 10.722.221 ca nhiễm, trong đó có 259.402 ca tử vong.

Trong vòng 24 giờ qua, số ca mắc mới theo ngày là 74.376 và số ca tử vong là 1.840 ca, mức cao nhất từ trước tới nay. Hiện Brazil đang đối mặt với làn sóng lây nhiễm dịch bệnh mới trong khi các hệ thống y tế đều đang đứng trước nguy cơ quá tải.

Tuy nhiên, tính theo khu vực hiện châu Âu đứng đầu thế giới, với 34.489.278 ca mắc COVID-19, trong đó ghi nhận 823.542 ca tử vong. Pháp và Italy vẫn là những nước có số ca mắc mới theo ngày cao nhất với lần lượt là 26.788 và 20.884 ca.

Tiếp theo là Bắc Mỹ với 33.794.388 ca nhiễm, trong đó có 767.392 ca tử vong. Châu Á đứng thứ ba với 25.231.005 ca nhiễm và 400.673 ca tử vong.

Mặc dù số ca nhiễm mới vẫn ở mức cao, một số nước châu Âu đang cân nhắc nới lỏng hoặc mở cửa một số dịch vụ. Anh thông báo muốn khôi phục hoạt động hàng không sau ngày 17/5 tới.

Tuy nhiên, việc tái khởi động hoạt động đi lại bằng đường hàng không sau thời gian phong tỏa do ảnh hưởng của dịch COVID-19 cần được các nước phối hợp thực hiện đồng bộ và Chính phủ Anh hy vọng người dân nước này sẽ được đi nghỉ trong thời gian sớm nhất có thể, sau ngày 17/5 tới. Đây là ý kiến của Bộ trưởng Hàng không Anh Robert Courts đưa ra tại cuộc họp của ủy ban quốc hội nước này ngày 3/3.

Theo Bộ trưởng Courts, sẽ không có hoạt động du lịch nào tại Anh trước ngày 17/5 tới và nước này sẽ xem xét nối lại hoạt động đi lại bằng đường hàng không sau thời điểm trên.

Trong khi đó, chính quyền trung ương và các bang của Đức ngày 3/3 nhất trí kéo dài phần lớn lệnh phong tỏa hiện nay cho đến này 28/3 tới, bên cạnh đó cũng nhất trí về lộ trình từng bước nới lỏng các biện pháp hạn chế hiện nay.

Tại cuộc họp trực tuyến ngày 3/3, Thủ tướng Đức Angela Merkel và Thủ hiến các bang nhất trí bắt đầu nới lỏng một số biện pháp từ ngày 8/3 tới. Theo đó, việc gặp gỡ giữa người thân, bạn bè sẽ được mở rộng, cho phép gặp gỡ tối đa 5 người trong hai gia đình, không tính trẻ em dưới 14 tuổi.

Khi các quận/huyện có chỉ số trung bình 7 ngày/100.000 dân dưới 35 sẽ được mở rộng hơn nữa (cho phép gặp gỡ tối đa 10 người trong 3 hộ gia đình), nhưng khi chỉ số này vượt quá 100 trong 3 ngày liên tiếp thì sẽ khôi phục trở lại quy định nghiêm ngặt hiện nay, như việc chỉ cho một hộ gia đình gặp gỡ thêm 1 người ngoài.

Chính quyền trung ương và địa phương cũng nhất trí mở rộng các cơ sở tiêm chủng tới cả các phòng khám từ đầu tháng Tư tới. Ngoài ra, việc xét nghiệm nhanh miễn phí cũng sẽ được bắt đầu triển khai từ đầu tuần tới.

Cùng ngày, Tổ chức Y tế liên Mỹ (PAHO) cảnh báo tình hình dịch bệnh COVID-19 với diễn biến phức tạp tại Mỹ Latinh có nguy cơ làm xuất hiện thêm nhiều biến thể mới nguy hiểm hơn của virus SARS-CoV-2 nếu không đẩy nhanh việc cung cấp vắcxin ngừa dịch bệnh cho khu vực này.

Giám đốc PAHO Clarissa Etienne khẳng định thế giới sẽ tiếp tục đối mặt với tình trạng thiếu vắcxin ngừa COVID-19 trong phần lớn năm 2021 và lượng vắcxin sẵn có hiện đang không được phân phối đồng đều.

Quan chức PAHO cho rằng các quốc gia giàu có đã bắt đầu triển khai tiêm phòng, trong khi nhiều nước khác vẫn chưa nhận được liều nào. Bà Etienne lưu ý “chừng nào dịch COVID-19 vẫn còn tồn tại ở một phần của thế giới, phần còn lại sẽ không bao giờ được an toàn.”

Bên cạnh đó, Giám đốc PAHO cho hay, trong tuần này Colombia đã trở thành nước đầu tiên trong khu vực Mỹ Latinh nhận được một lô vắcxin của hãng dược Pfizer theo cơ chế Covax của Tổ chức y tế thế giới (WHO). Dự kiến, trong tuần tới đây Peru sẽ là nước Mỹ Latinh thứ 2 được tiếp nhận vắcxin từ cơ chế này, tiếp theo đó sẽ là El Salvador và Bolivia.

Theo số liệu của PAHO, tới nay đã có khoảng 93 triệu người được chủng ngừa COVID-19 tại Mỹ Latinh. Theo kế hoạch, từ nay đến tháng Năm tới, khu vực này sẽ được tiếp nhận tổng cộng 28,7 triệu liều vắcxin ngừa COVID-19 từ cơ chế COVAX./.

 (vietnamplus.vn)

Bác sĩ Việt tự nghiên cứu 2 tuần ra phương pháp mổ mới

Sau gần 2 tuần mày mò nghiên cứu, PGS.TS Hiền triển khai kỹ thuật mới để sửa và thay van động mạch chủ.

2 tiếng sau ca phẫu thuật thay van động mạch chủ cơ học tại Bệnh viện Tim Hà Nội, bệnh nhân Mai Thị P., 59 tuổi ở Ứng Hoà, Hà Nội đã tỉnh táo hoàn toàn. Hơn nửa ngày sau, bà rời phòng hồi sức về khoa điều trị thông thường.

Hiện tại 4 ngày sau phẫu thuật, sức khoẻ bà P. đã hồi phục đến 7 phần, ăn tốt, ngủ tốt, trong 1-2 ngày tới sẽ được xuất viện.

PGS.TS Nguyễn Sinh Hiền, Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội cho biết, van động mạch của của bà P chỉ có 2 lá van, ở người bình thường có 3 lá van. Do bị lỗi bẩm sinh, cấu trúc van này dễ bị thoái hóa gây hẹp và hở van. Trước khi vào viện, bà đột nhiên đau ngực dữ dội rồi ngất đi.

Bệnh nhân được phẫu thuật thay van động mạch chủ bằng phương pháp ít xâm lấn nên hồi phục rất nhanh.

PGS Hiền cho biết, mỗi năm bệnh viện phẫu thuật sửa và thay van tim (van động mạch chủ và hai lá) gần 1.000 trường hợp.

Để thay van động mạch chủ, có 2 phương pháp chính. Với các trường hợp bị hẹp van động mạch chủ, Bệnh viện Tim Hà Nội và một số trung tâm tim mạch lớn đã áp dụng kỹ thuật thay van động mạch chủ qua da (TAVI). Phương pháp này ít đau, không sẹo, tuy nhiên chi phí lên tới gần 1 tỷ đồng.

Nếu bệnh nhân bị hở van động mạch chủ, bắt buộc phải sử dụng phương pháp mổ mở kinh điển. Trước đây, bệnh nhân sẽ phải mổ dọc xương ức dài 20-25cm, với các bệnh nhân cao tuổi, xương bị loãng nên vết mổ rất chậm liền, nguy cơ viêm xương ức lớn, tăng tỉ lệ tử vong. Với các bệnh nhân trẻ, đặc biệt là phụ nữ, vết mổ dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến thẩm mỹ.

Để khắc phục những hạn chế của 2 phương pháp trên, gần 2 năm trước, PGS Hiền tự lên mạng đọc tài liệu, tìm kiếm  các thông tin liên quan đến kỹ thuật sửa và thay van động mạch chủ ít xâm lấn.

Sau gần 2 tuần mày mò nghiên cứu, anh bắt tay chuẩn bị cho ca mổ đầu tiên bằng phương pháp mới.

“Ca đầu tiên khá căng thẳng và phải chuẩn bị rất nhiều thứ, phải tính toán chi tiết để ca mổ không được thất bại. May mắn, mọi thứ diễn ra suôn sẻ như dự liệu”, PGS Hiền nhớ lại.

PGS Hiền chia sẻ, phẫu thuật ít xâm lấn là xu thế của thế giới, vừa điều trị được bệnh, vừa đảm bảo thẩm mỹ và giảm biến chứng. Các nước phát triển đã triển khai phẫu thuật sửa và thay van động mạch chủ ít xâm lấn từ lâu, song trong khu vực Đông Nam Á ít nơi làm.

Tại các quốc gia triển khai kỹ thuật này đều sử dụng thiết bị chuyên biệt, tuy nhiên Việt Nam không có nên PGS Hiền cùng các đồng nghiệp tự sáng tạo, sử dụng ngay những dụng cụ, thiết bị hiện có.

Với phương pháp mới, bác sĩ chỉ cần rạch đường ngắn 5-7cm, mổ qua khe xương sườn, không đụng chạm đến xương ức, đường mổ rất nhỏ, vết mổ nhanh liền, an toàn cho người bệnh, tránh biến chứng, đặc biệt với các bệnh nhân cao tuổi.

Sau mổ, bệnh nhân hồi phục nhanh, sau 1 tuần có thể xuất viện và chi phí chỉ mất 60-90 triệu đồng. Với phương pháp mổ cũ, bệnh nhân cần nằm viện 2-3 tuần.

“Phương pháp này áp dụng được cho cả các trường hợp sửa và thay van động mạch chủ do hở hoặc hẹp. Tuy nhiên kĩ thuật yêu cầu bác sĩ phải nắm rõ giải phẫu, khi mổ phải dùng kính lúp nhìn qua vết mổ nhỏ. So với phương pháp cũ, kĩ thuật mổ mới kéo dài hơn 1 giờ, khoảng 4 tiếng”, PGS Hiền chia sẻ.

Trong 1 năm qua, Bệnh viện Tim Hà Nội đã thực hiện thay van động mạch chủ cho trên 40 trường hợp bằng phương pháp mới, chưa ghi nhận ca nào có biến chứng.

Theo PGS Hiền, nhờ thay đổi kĩ thuật, bệnh nhân cần thay van động mạch chủ được điều trị an toàn, hiệu quả và tiết kiệm nhiều lần so với phương pháp cũ.

(vietnamnet.vn)

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.