Kiểm soát bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ & một số thông tin cần biết

Phụ nữ mang thai cơ thể sẽ có nhiều thay đổi về cơ thể, nhiều nghiên cứu chỉ ra giai đoạn này mẹ bầu có nguy cơ cao bị mắc bệnh về tuyến giáp, đặc biệt là trong 3 tháng đầu. Cùng tìm hiểu chi tiết hơn về kiểm soát bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ cũng như một số thông tin liên quan ngay sau đây.

Thông tin chung về bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ

Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất của cơ thể, có hình cánh bướm và nằm ở phía trước, dưới cổ. Chức năng của tuyến giáp là giúp tổng hợp và dự trữ hormon giáp cho cơ thể. Đến khi được phóng thích vào máu, hormon giáp sẽ tác động tại các mô đích.

Cơ quan này cũng có vai trò quan trọng trong điều chỉnh, giải phóng năng lượng, ảnh hưởng đến sự phát triển của trí não, tim, chức năng hô hấp, hệ thần kinh, sức mạnh cơ bắp, chu kì kinh nguyệt, nhiệt độ cơ thể,…

Bệnh lý tuyến giáp ở phụ nữ mang thai chủ yếu do sự thay đổi của hoạt động sinh lý và nó diễn ra khá phức tạp, thậm chí làm thay đổi quá trình diễn tiến của bệnh. Nó có thể ảnh hưởng từ 1 – 2% sức khỏe của phụ nữ mang bầu.

Bệnh lý tuyến giáp ở phụ nữ mang thai chủ yếu do sự thay đổi của hoạt động sinh lý
Bệnh lý tuyến giáp ở phụ nữ mang thai chủ yếu do sự thay đổi của hoạt động sinh lý

Ở nước ta, bệnh thường gặp nhiều ở phụ nữ khu vực vùng núi vì đa số phụ nữ mang bầu trong khu vực này bị thiếu iot. Nếu như không phát hiện và xử lý kịp thời, bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ có thể gây ra nhiều biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe của cả mẹ và bé.

Sinh lý học của tuyến giáp trong thời kỳ mang thai

Sinh lý tuyến giáp được điều chỉnh bởi bộ trục hạ đồi – tuyến yên. Vùng dưới đồi sẽ liên tục kích thích tuyến yên thông qua hormon giải phóng tuyến giáp, còn gọi là TRH, mức độ tương quan nghịch với các hormon tuyến giáp. TRH cũng giúp điều hòa việc sản sinh hormon kích thích tuyến giáp của tuyến yên, gọi là TSH. TSH lần lượt kích thích sự giải phóng của các hormon tuyến giáp, thyroxine (T3), triiodothyronine (T4). Mức độ được kiểm soát bởi TRH và phản hồi ngược âm tính của thyroxine và triiodothyronine lên trục hạ đồi – tuyến yên.

Thay đổi chức năng tuyến giáp

Khi mang thai, chức năng tuyến giáp ở phụ nữ lúc này có nhiều sự thay đổi rõ rệt.

  • Thay đổi hormon

Khi mang thai, cơ thể người mẹ sinh ra 2 hormon chính là: Human chorionic gonadotropin βhCG và Estrogen.
Estrogen có thể giúp làm tăng khả năng gắn kết với βhCG lên khoảng 2 – 3 lần và làm giảm nồng độ hormon tuyến giáp tự do, qua đó kích thích trục hạ đồi – tuyến yên – tuyến giáp.

βhCG và TSH có cấu trúc phân tử giống nhau và βhCG có thể kích thích giải phóng thyroxine và triiodothyronine. Sau đó nó hoạt động như phản hồi ngược âm tính lên tuyến yên, giảm TSH thoáng qua ở tuần thứ 8 và 14 của thai kỳ. Sự chuyển hóa ngoại biên của hormon giáp xảy ra chủ yếu ở tam cá nguyệt thứ 2 và thứ 3 của thai kỳ, đó là kết quả của việc tăng khử iode type II và III ở nhau thai.

Nhau thai chuyển một lượng nhỏ T3 và T4 của người mẹ. Hormon giáp có nguồn gốc từ mẹ này sẽ có chức năng hỗ trợ sự phát triển của thai nhi trong quá trình hình thành những cơ quan quan trọng. Việc sản xuất T4 của bào thai có thể phát hiện bắt đầu từ tuần 14 thai kỳ. Hoạt động tuyến giáp của thai nhi đầy đủ xuất hiện đầy đủ giữa thai kỳ và nồng độ hormon giáp sẽ tăng cho đến khi kết thúc thai kỳ.

Việc sản xuất T4 của bào thai có thể phát hiện bắt đầu từ tuần 14 thai kỳ
Việc sản xuất T4 của bào thai có thể phát hiện bắt đầu từ tuần 14 thai kỳ
  • Thay đổi về miễn dịch

Hiện tượng tự miễn xuất hiện và gia tăng thường vào quý đầu tiên của thai kỳ, cải thiện ở quý 2 cho đến cuối thai kỳ. Các kháng thể TPO và thyroglobulin hiện diện khoảng 6 – 20% ở thai phụ. Điều này giúp liên hệ đến tình trạng: Tăng khả năng sảy thai, trầm cảm, suy giáp cận lâm sàng, viêm giáp sau sinh.

Nồng độ các kháng thể tuyến giáp sẽ giảm trong quý đầu của thai kỳ và có mức thấp nhất ở quý 3, sau đó sẽ tăng lên vào thời kỳ hậu sản. Các kháng thể kháng thụ thể TSH giảm trong thai kỳ và có thể qua nhau gây rối loạn chức năng tuyến giáp ở thai nhi, trẻ sơ sinh.

Bệnh lý tuyến giáp và mang thai thường diễn ra cùng lúc, tương tác quan trọng giữa hai tình trạng tên gồm 4 vấn đề là: Giảm TSH diễn ra trong 3 tháng đầu thường bị nhầm với cường giáp, phụ nữ suy giảm nhu cầu tăng liều levothyroxine thường gặp trong giai đoạn thai kỳ, sự phức tạp của điều trị suy giảm để giảm tác dụng phụ trên thai nhi, cường giáp thoáng qua do viêm giáp không đau.

  • Thay đổi về kích thước

Tuyến giáp có thể thay đổi kích thước trong quá trình phụ nữ mang thai, thường là lớn hơn 10 – 15% và gọi là bướu giáp. Tỷ lệ này cao hơn phụ nữ sống ở vùng núi – nơi thường xuyên bị thiếu iode. Siêu âm có lẽ là biện pháp tốt nhất giúp phát hiện kích thước tuyến giáp tăng và phụ nữ nên đến gặp bác sĩ sớm để được chẩn đoán và điều trị.

Vai trò của iode trong giai đoạn thai kỳ

Nhu cầu iode thường thay đổi theo lứa tuổi và giai đoạn phát triển của mỗi người và phụ nữ mang thai cũng không ngoại lệ.

Phụ nữ mang thai và cho con bú: Cần tối thiểu 200 µg/ngày, khuyến cáo của WHO là 250 µg/ngày. Nếu lượng này quá 500 µg/ngày có thể gây suy giáp ở thai nhi.

Khi mang thai, nhu cầu iode thường tăng 50% do chuyển hóa của cơ thể tăng, iode cho thai nhi cũng tăng, độ thanh thải iode qua thận tăng. Vậy nên nếu giai đoạn này không cung cấp đủ iode thì sẽ dẫn đến tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp.

Khi mang thai, nhu cầu iode thường tăng 50% do chuyển hóa của cơ thể tăng
Khi mang thai, nhu cầu iode thường tăng 50% do chuyển hóa của cơ thể tăng

Những yếu tố gia tăng nguy cơ mắc bệnh tuyến giáp thai kỳ

Phụ nữ có nguy cơ cao mắc bệnh lý về tuyến giáp khi được chẩn đoán các bệnh có liên quan trước đó như: suy giáp, cường giáp, bướu nhân tuyến giáp, basedow,… Ngoài ra những yếu tố sau đây sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh:

  • Gia đình từng có người mắc bệnh liên quan đến tuyến giáp.
  • Sản phụ từng mang thai và từng bị bệnh tuyến giáp ở lần mang thai đó.
  • Sản phụ có tiền sản khoa không tốt như sinh non, thai lưu, sảy thai, sinh con dị tật,…
  • Người bị tiểu đường tuýp 1.
  • Phụ nữ bị viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ,…
  • Phụ nữ đang trong quá trình điều trị suy giáp.
  • Phụ nữ từng phẫu thuật tuyến giáp, điều trị bằng phóng xạ vùng cổ, đầu,…

Bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ có nguy hiểm không?

Trong 13 tuần đầu tiên, thai nhi chưa có tuyến giáp nên sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào hormon tuyến giáp của mẹ cung cấp thông qua nhau thai. Đây là thời kỳ quan trọng để hình thành cũng như phân chi các cơ quan của thai nhi, việc đủ hormon là rất quan trọng. Nếu bị thiếu, thai phụ mắc bệnh về tuyến giáp và sẽ ảnh hưởng đến thai nhi, gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho bé.

Khi mẹ bầu bị suy giáp, huyết áp tăng cao và dễ bị sảy thai, dọa sinh non, thai chết lưu, rau bong nong, thậm chí khiến trẻ sinh ra bị đần độn, trí tuệ chậm phát triển. Phụ nữ có bầu bị cường giáp sẽ dễ bị sảy thai, đẻ non, hội chứng tiền sản giật,… Đặc biệt, cường giáp gây ảnh hưởng đến tính mạng của mẹ và bé khi sinh.

Xem thêm

Mẹ bầu có thể bị sảy thai nếu không kiểm soát được bệnh
Mẹ bầu có thể bị sảy thai nếu không kiểm soát được bệnh

Tóm lại, nếu không kiểm soát bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ, mẹ và bé sẽ gặp nhiều biến chứng nguy hiểm như:

  • Tỷ lệ sảy thai tăng 2 lần.
  • Nguy cơ mắc dị tật bẩm sinh tăng đến 20%.
  • ½ số trẻ sinh ra bị chậm phát triển, trí tuệ ảnh hưởng.

Xét nghiệm chức năng tuyến giáp trong giai đoạn thai kỳ

Những thay đổi về sinh lý trong thai kỳ khiến việc diễn giải những xét nghiệm khó khăn hơn rất nhiều. Sự gia tăng Thyroxine binding globulin TBG dẫn đến tăng T4 toàn phần và T3 toàn phần, hạn chế tính hữu dụng chẩn đoán. Mức T4 tự do và T3 tự do được cho là phản ánh chức năng tuyến giáp lúc mang thai tốt hơn so với TT3 và TT4. FT3 lúc này hiếm khi cần thiết.

Do những thay đổi sinh lý tuyến giáp ở thai kỳ nên chúng có thể ảnh hưởng đến việc diễn giải kết quả xét nghiệm, sự không chắc chắn lúc này vẫn liên quan đến phạm vi được tham chiếu cho các kết quả xét nghiệm về tuyến giáp.

Đến nay chưa có giới hạn nào được chấp nhận, trong khi đó phạm vi tham khảo TSH quần thể chung là 0,45 – 4,5 mU/L. Một số nghiên cứu mô tả phạm vi xét nghiệm tuyến giáp thai kỳ nhưng có sự khác biệt giữa tuổi thai, số thai nhi, phương pháp xét nghiệm.

Chẩn đoán và kiểm soát bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ

Cường giáp và suy giáp là 2 bệnh phổi biến nhất liên quan đến tuyến giáp trong giai đoạn thai kỳ. Mỗi tình trạng sẽ do những nguyên nhân khác nhau gây ra và có cách kiểm soát khác nhau.

Suy giáp và thai kỳ

Suy giáp trong giai đoạn thai kỳ có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm và khiến sức khỏe của mẹ và bé bị ảnh hưởng.

Nguyên nhân

Các nguyên nhân khiến mẹ bầu bị suy giáp có thể kể đến như:

Suy giáp nguyên phát

Phụ nữ trưởng thành bị suy giáp 95% nguyên nhân do bệnh nguyên phát của tuyến giáp và phổ biến nhất là tình trạng viêm tuyến giáp Hashimoto tự miễn. Bệnh cũng gặp nhiều ở phụ nữ bị đái tháo đường tuýp 1, hội chứng sjogren hoặc bị thiếu máu ác tính. Có khoảng 25% bệnh nhân bị đái tháo đường type 1 sẽ bị bệnh về tuyến giáp sau sinh.

  • Ngoài ra, các nguyên nhân khác gây suy giáp nguyên phát gồm thiếu iode, viêm mủ tuyến giáp, tiền sử phẫu thuật, xạ trị tuyến giáp,…
  • Viêm tuyến giáp Hashimoto: Viêm tuyến giáp Hashimoto là nguyên nhân gây suy giáp phổ biến và phổ biến ở nữ giới. Ở tình trạng này, kháng thể đặc hiệu tuyến giáp gây tổn thương tuyến giáp và âm thầm chuyển thành suy giáp.
  • Viêm tuyến giáp bán cấp: Gồm viêm tuyến giáp bán cấp dạng hạt và viêm tuyến giáp lympho bán cấp. Dù nguyên nhân khác nhau nhưng bệnh viêm giáp bán cấp có diễn biến tương tự nhau, bắt đầu bằng tình trạng cường giáp thoáng qua sau suy giáp. Bệnh có thể kéo dài 4 – 6 tuần hoặc thậm chí 9 tháng. Tỷ lệ phục hồi khoảng 90% và chỉ có 10% có bướu giáp dai dẳng.
  • Viêm tuyến giáp u hạt bán cấp: Thường do nhiễm virus và khởi phát khá đột ngột gây đau cơ, đau cổ và sốt.
  • Viêm tuyến giáp lympho bán cấp: Nó có thể ảnh hưởng đến 5% phụ nữ sau sinh và tỷ lệ tái phát là 80% cho các lần mang thai tiếp theo.
Phụ nữ trưởng thành bị suy giáp 95% nguyên nhân do bệnh nguyên phát của tuyến giáp
Phụ nữ trưởng thành bị suy giáp 95% nguyên nhân do bệnh nguyên phát của tuyến giáp

Thiếu iode

Thiếu iode trong giai đoạn thai kỳ có thể gây tử vong hoặc chứng đần độn sau sinh, khiến trẻ chậm phát triển, gây ra nhiều khiếm khuyết về thần kinh khác. Thiếu iode đến nay vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây chậm phát triển tâm thần trên toàn thế giới.

Ở phụ nữ mang thai, nồng độ iode cần cao hơn mức bình thường để giúp sự thanh thải của thận hoạt động tốt và tăng sự hấp thu của thai nhi, nhau thai. Lượng iode được đưa vào cơ thể theo khuyến cáo là 200 – 250 µg/ngày.

Suy giáp thứ phát

Suy giáp thứ phát được biết đến là kết quả của tổn thương vùng dưới đồi hoặc tuyến yên do u, tia xạ, phẫu thuật, viêm tuyến yên lympho.

  • Hội chứng Sheehan: Là tình trạng hoại tử tuyến yên do giảm tưới máu. Biểu hiện là phụ nữ không có sữa, không có kinh nguyệt trở lại và gây suy toàn bộ tuyến yên cấp tính.
  • Viêm tuyến yên lympho: Thường xảy ra sau sinh và là một rối loạn tự miễn gây hủy hoại tuyến yên trước. Biểu hiện rõ nhất là đau đầu, thay đổi thị giác, rối loạn chức năng nội tiết.

Bệnh rối loạn tuyến giáp cận lâm sàng

Gồm:

  • Suy giáp cận lâm sàng: Thường do TSH tăng với nồng độ FT4 (Free thyroxine) và FT3 (Free triiodothyronine), phụ nữ mang thai chiếm 2 – 5% đối tượng mắc bệnh. Phụ nữ bị suy giáp cận lâm sàng có nhiều kháng thể TPO nhiều hơn bình thường và một nửa trong số này sẽ phát triển thành suy giáp trong 8 năm. Suy giáp cận lâm sàng giai đoạn thai kỳ thường không có triệu chứng và gây sinh non, tiền sản giật, chết lưu,…
  • Giảm thyroxine máu đơn độc: Có nghĩa là FT4 thấp và TSH bình thường. Tình trạng này thấp 1 – 2% trong thai kỳ. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng FT4 người mẹ dưới 10% ở tuần thứ 12 có liên quan đến tăng nguy cơ giảm tầm thần ở trẻ lúc 10 tháng và 2 tuổi.

Chẩn đoán bệnh

Suy giáp ảnh hưởng đến 1 – 2% phụ nữ và gây biến chứng ở phụ nữ mang thai với tỷ lệ 0,3%. Các triệu chứng thường mơ hồ và giống như những triệu chứng vốn có ở thai kỳ như mệt mỏi, chịu lạnh kém, chuột rút, táo bón, mất ngủ, suy nghĩ chậm chạp,…

Suy giáp ảnh hưởng đến 1 - 2% phụ nữ và gây biến chứng ở phụ nữ mang thai với tỷ lệ 0,3%
Suy giáp ảnh hưởng đến 1 – 2% phụ nữ và gây biến chứng ở phụ nữ mang thai với tỷ lệ 0,3%

Chính vì vậy rất nhiều người thường không chú ý và không đi khám. TSH huyết thanh trên xét nghiệm thế hệ thứ 3 là xét nghiệm ban đầu cho bệnh suy giáp. Các giá trị xét nghiệm kết hợp với suy giáp gồm TSH tăng, chỉ số FT4 thấp và có sự biến đổi hiện diện của TPO.

Suy giáp cũng liên quan đến sinh non, tiền sản giật, xuất huyết hậu sản,… Dựa trên những dữ liệu có được, điều trị có thể giúp cải thiện kết cục ở phụ nữ có thai. Nhiều nghiên cứu cho biết, 29% phụ nữ suy giáp không được điều trị bị sảy thai, chỉ số thông minh của bé khi sinh cũng thấp hơn 7 điểm, 19% có chỉ số thông minh dưới 85 điểm.

Phương pháp điều trị kiểm soát

Kiểm soát bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ, cụ thể là bệnh suy giáp thường sẽ dùng thuốc. Trong tam cá nguyệt đầu tiên, ước tính lượng levothyroxine sẽ tăng 30 – 50%.

Tư vấn trước khi sinh cũng là cách tối ưu hóa điều trị và cung cấp thêm 25µg levothyroxin. Phụ nữ có xu hướng suy giáp trong giai đoạn đầu mang thai nên bắt đầu từ 1 đến 2µg/kg/ngày levothyroxin. Liều ban đầu sẽ dao động từ 100 – 150 µg/ngày.

TSH nên được đánh giá lại từ 4 – 6 tuần sau khi thay đổi liều, sau khi ổn định có thể kiểm tra sau mỗi 8 tuần. Sinh khả dụng của levothyroxine có thể sẽ bị ảnh hưởng bởi thuốc và thực phẩm. Cụ thể, cholestyramine, sulfate sắt cùng canxi cacbonat có thể khiến khả năng hấp thu levothyroxine giảm, phenytoin và carbamazepin làm tăng độ thanh thải.

Với phụ nữ mới được chẩn đoán suy giáp trong thai kỳ có thể giảm liều bằng cách điều chỉnh liều đang dùng xuống 30%. Và TSH sẽ được đánh giá sau 6 tuần sau sinh.

Bệnh cường giáp và thai kỳ

Bên cạnh suy giáp, cường giáp cũng là một trong những bệnh liên quan đến tuyến giáp ở phụ nữ mang thai phổ biến.

Nguyên nhân gây bệnh

Có nhiều nguyên nhân khiến tình trạng cường giáp xuất hiện ở phụ nữ đang trong giai đoạn mang thai.

Chứng nôn do nghén, nhiễm độc

Các biểu hiện hóa sinh thoáng qua của cường giáp có thể quan sát thấy từ 2 – 15% phụ nữ giai đoạn đầu mang thai. Phụ nữ mắc bệnh do bị nôn nghén dẫn đến mất nước, gây rối loạn điện giải và giảm cân.

Đánh giá thường quy chức năng tuyến giáp không được khuyến cáo dùng trong đánh giá chứng nôn do nghén trừ khi có nghi ngờ cường giáp lâm sàng. Nếu được đánh giá, TSH huyết thanh thường sẽ thấp và FT4 cao. Nguyên nhân của cường giáp thoáng qua chủ yếu là kết quả phản ứng chéo giữa βhCG và TSH ở thụ thể tuyến giáp.

kiểm soát bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ
Nôn ói có thể là biểu hiện của cường giáp

Bệnh Graves

Bệnh chiếm đến 90 – 95% cường giáp liên quan đến phụ nữ mang thai. Bệnh Graves do các kháng thể kích thích thụ thể tuyến giáp và gây phì đại tuyến giáp, tăng năng.

Bệnh trầm trọng hơn trong tam cá nguyệt đầu tiên và sẽ cải thiện trong tam cá nguyệt thứ 2 và thứ 3 của thai kỳ. Tình trạng này cũng cần được theo dõi sát sao hậu sản vì nó có thể bị tái phát. Graves ở phụ nữ mang thai cũng khiến con sinh ra mắc bệnh, chiếm 1 – 5%. Chúng bị ảnh hưởng do đi qua nhau thai và gây cường giáp sơ sinh.

Bướu giáp nhân

Bướu giáp nhân xảy ra ở phụ nữ trẻ và thường là lành tính. Các bướu giáp nhân được mô tả là chức năng hoặc không chức năng tùy thuộc vào việc chúng có sản sinh ra tuyến giáp hay không.

Chẩn đoán bệnh

Cường giáp là kết quả tình trạng dư thừa hormon giáp và gây biến chứng ở 1% phụ nữ mang thai. Bệnh rất khó được phát hiện do những triệu chứng giống với khi ốm nghén. Tuy nhiên có một số triệu chứng không phổ biến ở thai kỳ nhưng được phát hiện ở bệnh nhân cường giáp là: Giảm cân, không tăng cân dù tăng chế độ ăn uống, tim nhanh lúc nghỉ, mắt nhìn trừng, run, huyết áp tăng, lồi mắt, tuyến giáp có nhân,…

Những trường hợp cường giáp nhẹ nhất được khuyến cáo điều trị vì có thể có liên hệ giữa cường giáp và một số biến chứng thai kỳ như: Sảy thai tự nhiên, hậu sản bệnh lý, dị tật bẩm sinh, sinh non, thai giảm cân,… Những biến chứng của cường giáp không kiểm soát ở người mẹ chủ yếu liên quan đến cơn bão giáp như loạn nhịp, suy tim xung huyết,…

Chẩn đoán cường giáp còn được thực hiện bằng việc xét nghiệm TSH thấp, FT4 cao. FT3 chỉ được dùng để loại trừ các trường hợp hiếm gặp của nhiễm độc giáp T3 khi TSH có nồng độ huyết thanh thấp, FT4 bình thường.

Điều trị cường giáp thai kỳ

Dùng thuốc, phẫu thuật hoặc điều trị phóng xạ là những cách phổ biến nhất.

Các thuốc kháng giáp

Nhóm 1 – thuốc thionamides: Gồm thuốc propylthiouracil (PTU), thuốc methimazole và carbimazole. Chúng hoạt động bằng cách ức chế tự sản xuất T4. PTU cũng ngăn chuyển đổi T4 thành T3 và hiện PTU được dùng thường xuyên hơn methimazol. Khi dùng thuốc, cần sử dụng liều thấp nhất và dùng đúng hướng dẫn để tránh những tác dụng phụ ảnh hưởng đến thai nhi.

kiểm soát bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ
Một số loại thuốc có thể dùng để chữa bệnh

Thuốc chẹn βadrenergic giúp ức chế chuyển đổi từ T4 thành T3, được dùng như một phương pháp bổ trợ thuốc kháng giáp, giúp ổn định nhịp tim. Thuốc Propranolol liều 20 – 40mg cũng có thể dùng trong khi chờ đáp ứng với thuốc kháng giáp.

Thuốc kháng giáp nên được giảm dần theo tiến triển của thai kỳ. Liệu pháp điều trị ức chế và thay thế, kết hợp liều cao không được khuyên dùng trong thai kỳ vì có thể làm tăng nguy cơ suy giáp của thai nhi.

Thuốc thionamides có thể gây mất bạch cầu hạt – tác dụng phụ hiếm có nhưng vẫn có thể xảy ra. Vậy nên trước khi điều trị cần thực hiện đánh giá cơ bản về số lượng bạch cầu, tổng phân tích tế bào máu.

Phẫu thuật

Phẫu thuật cắt bỏ gần toàn bộ được áp dụng cho phụ nữ gặp phải những biến chứng nặng và không đáp ứng điều trị bằng thuốc, bị mất bạch cầu hoặc ung thư tuyến giáp ác tính. Phẫu thuật thường được trì hoãn sau khi sinh nhưng cũng nhiều trường hợp thực hiện trong thai kỳ nếu cấp bách. Nếu thực sự phải phẫu thuật thì nên thực hiện trong tam cá nguyệt thứ 2 để tránh biến chứng gây mê gây sinh non, quái thai…

Rủi ro của phẫu thuật là 2 – 4% nguy cơ tổn thương dây thần kinh quặt ngược thanh quản cà 1% nguy cơ suy cận tuyến giáp khi vô tình cắt bỏ tuyến cận giáp.

Kiểm soát bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ bằng điều trị iode phóng xạ

Phương pháp này chống chỉ định khi mang thai và cho con bú. Phụ nữ cũng nên thử thai trước khi thực hiện điều trị. I131 sẽ đi qua nhau thai và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai nhi. Rất nhiều trường hợp thai nhi tiếp xúc với I131 sau 10 – 12 tuần có ít nhất 3% tỷ lệ suy giáp bẩm sinh và gặp vấn đề về thần kinh.

Vì có thể gây nhiều nguy hiểm nên sau khi dùng iode điều trị, nên tránh thai trong 3 tháng và trì hoãn thụ thai khoảng 1 năm.

Cơn cường giáp cấp

Cơn bão giáp là một đợt cấp tính trầm trọng của cường giáp và là một biến chứng nguy hiểm. Nó biểu hiện bằng những cơn sốt, nhịp tim nhanh, thay đổi thần kinh, suy tim, rối loạn nhịp tim.

kiểm soát bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ
Cơn bão giáp là một đợt cấp tính trầm trọng của cường giáp và là một biến chứng nguy hiểm

Các giá trị xét nghiệm đặc trưng phù hợp với cường giáp và có thể gồm tăng bạch cầu, tăng men gan, calci huyết. Một số chỉ số cao về sự nghi ngờ, ngưỡng thấp để đánh giá chính xác và điều trị kịp thời là cần thiết để tránh những kết cục nguy hiểm. Theo dõi tích cực và có thể yêu cầu vào đơn vị chăm sóc đặc biệt, nhất là khi có bằng chứng về mất bù tim.

Một khi chẩn đoán được thiết lập thì cần dùng thuốc để ngăn chặn T4 được sản xuất. Thuốc chặn βadrenergic giúp cản trở T4 thành T3, Iode giúp ngăn chặn giải phóng T4 và có thể dùng sau 1 – 2 giờ ổn định với thuốc kháng giáp, Corticosteroids được dùng để giảm thêm sự chuyển đổi ngoại vi của T4 thành T3.

Bên cạnh đó, cần theo dõi mẹ bầu từ xa, theo dõi động mạch. Hội chẩn với bác sĩ nội tiết và bác sĩ sản khoa về việc điều trị cho phụ nữ mang thai mắc bệnh là cần thiết. Nếu như thai nhi có thể sống được thì cần liên tục theo dõi thai nhi. Không nên can thiệp lấy thai cho đến khi tình trạng người mẹ ổn định vì việc sinh mổ, mổ lấy thai sẽ khiến bệnh trầm trọng hơn.

Ung thư tuyến giáp trong khi mang thai

Ung thư tuyến giáp hiện đang gia tăng và phụ nữ trong giai đoạn sinh sản có nguy cơ cao mắc bệnh. Nó có thể ảnh hưởng đến 14 trong số 100.000 phụ nữ mang thai. Các loại mô học của ung thư tuyến giáp gồm loại biệt hóa, tủy, tế bào hurthle, thoái biến. Có thể dùng xét nghiệm TSH huyết thanh, siêu âm vùng cổ, tuyến giáp bằng cách dùng kim nhỏ chọc hút các nhân nghi ngờ.

Nếu ung thư tuyến giáp khu trú và biệt hóa, được xác định trong tam cá nguyệt thứ 2, thứ 3 thì có thể trì hoãn phẫu thuật cho đến khi sinh. Không có nhiều sự gia tăng rõ ràng trong các kết cục thai kỳ bất lợi ở phụ nữ được chẩn đoán bệnh. Tỷ lệ sống sót khoảng 10 năm đối với phụ nữ ung thư tuyến giáp biệt hóa được chẩn đoán khi mang thai là 99%, không khác nhiều so với phụ nữ không mai thai. Điều trị phẫu thuật khi mang thai cần theo dõi chức năng tuyến giáp và dùng levothyroxine.

kiểm soát bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ
Ung thư tuyến giáp có thể được trì hoãn cho đến khi sau sinh

Cần theo dõi cẩn thận triệu chứng lâm sàng của bệnh trong thai kỳ. Trong 10 năm, tỷ lệ tái phát bệnh là 15 – 20% và cần giám sát siêu âm cổ cho tái phát cục bộ hoặc siêu âm nhân có thể được chỉ định. Sau phẫu thuật, xạ trị toàn thân và xạ trị còn lại của iode phóng xạ được chống chỉ định khi đang mang thai và cho con bú.

Chế độ dinh dưỡng giúp phòng ngừa và kiểm soát bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ

Chế độ ăn uống dưới đây sẽ giúp giảm triệu chứng cũng như những khó chịu do bệnh lý về tuyến giáp gây ra.

Thực phẩm nên ăn

Những nhóm thực phẩm sau đây bà bầu có thể bổ sung thêm vào chế độ dinh dưỡng hàng ngày.

  • Sắt, kẽm, selen: Các chất này có thể kích thích tuyến giáp lành mạnh và phòng những biến chứng nguy hiểm. Bà bầu nên ăn thịt lợn, rau cải bó xôi, thịt bò, các loại hạt,…
  • Omega 3: Đây là chất béo lành mạnh tốt cho mẹ bầu bị bệnh về tuyến giáp. Những thực phẩm tốt là cá hồi, hạt lanh, cải bó xôi,… giúp cải thiện trao đổi chất, điều trị bệnh.
  • Vitamin A: Đây là chất quan trọng giúp T3 đi vào tế bào, bạn nên ăn nhiều cà rốt, quả xoài, quả mơ, khoai lang…
  • Vitamin D, vitamin B: Bổ sung vitamin B và vitamin D giúp tuyến giáp có đủ dinh dưỡng để thực hiện chức năng của nó. Những thực phẩm giàu dưỡng chất này là: súp lơ, nấm, cá béo, thịt lợn, củ cải đỏ,…
  • Nước: Bổ sung nước sẽ giúp hạn chế tình trạng mất nước và giúp bù điện giải.
Củ cải đỏ tốt cho người bệnh
Củ cải đỏ tốt cho người bệnh

Thực phẩm nên tránh

Một số thực phẩm sau không tốt cho việc kiểm soát bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ.

  • Thực phẩm giàu iot: Chúng làm tăng hoạt động của tuyến giáp và khiến bệnh nặng hơn, nên hạn chế ăn rong biển, tảo, hải sản, muối iot,…
  • Cà phê: Nó khiến cơ thể tỏa nhiệt nhiều, kích thích sản sinh nhiều hormon thyroxin.
  • Bột: Bột gạo, bột mì ít dưỡng chất và khó tiêu hóa và không tốt cho phụ nữ mang thai.
  • Sữa tươi nguyên kem: Nó chứa nhiều chất béo và khiến khả năng tiêu hóa khó khăn, không tốt cho người bị vấn đề về tuyến giáp.
  • Đường: Bổ sung quá nhiều đường có thể tăng mức độ hồi hộp ở những người bị cường giáp, suy giáp.
  • Đồ uống có cồn: Bia rượu, đồ có cồn hạn chế sự hấp thu canxi và làm nặng thêm tình trạng rối loạn chuyển hóa canxi ở bệnh nhân suy giáp, cường giáp, đặc biệt là ở phụ nữ mang thai.

Trên đây là toàn bộ những thông tin về kiểm soát bệnh lý tuyến giáp trên thai kỳ và những thông tin liên quan. Bệnh lý tuyến giáp thường gặp trong giai đoạn thai kỳ và khá đa dạng, nó cũng gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không xử lý đúng cách, kịp thời. Vậy nên cần phát hiện và điều trị đúng cách để đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ bầu và thai nhi.

Đọc nhiều

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.