BỆNH UNG THƯ PHỔI

Ung thư phổi thường xuất hiện và phát triển bên trong thành hoặc  biểu mô của phế quản (bronchus). Loại ung thư phổ biến nhất là ung thư u biểu bì dưới dạng tế bào có vảy, ung thư tế bào mảnh dưới dạng tế bào ngắn như hình con suốt, ung thư tuyến và ung thư tế bào lớn dưới dạng phát triển không có hình thái hay cấu trúc nhất định.

Sự ước đoán một người có mắc bệnh ung thư phổi hay không à điều rất khó khăn, dễ sai lầm, cần phải rất nhiều thời gian chẩn đoán bằng các dụng cụ khoa học mới biết chính xác loại ung thư và kích thước tế bào ung thư. Điều đáng buồn là chỉ có khoảng 13% bệnh nhân ung thư phổi sống sót 5 năm sau khi được chẩn đoán, trong đó tỷ lệ đàn ông chiếm đa số và chết nhanh nhất lại thuộc về phụ nữ.

tim-hieu-ung-thu-phoi

Nguyên nhân

– Hầu hết các nhà nghiên cứu đồng ý rằng ung thư phổi phát sinh là do hít phải những chất ô nhiễm có mang mầm mống gây ung thư mà cơ thể người tiếp nhận lại quá nhạy cảm.

– Bắt kỳ người hút thuốc lá nào trên 40 tuổi, đặc biệt khởi sự hút từ tuổi 15, đã tiêu thụ cả gói hoặc hơn 1 gói (20 điếu) một ngày vòng 20 năm, đều có nguy cơ bị ung thư phổi. Những người làm việc hoặc sống gần chất thạch miên, còn gọi là chất amiante, cũng đều có nguy cơ tương tự như người nghiện thuốc lá.

– Chất ô nhiễm trong khói thuốc lá chính là thủ phạm kiến tạo tế bào ung thư. So với người không hút thuốc lá, tỷ lệ người nghiện thuốc lá bị bệnh ung thư phổi chiếm tới 80%.

– Nguy cơ bị ung thư phổi nhiều hay ít tùy thuộc vào 4 yếu tố cơ bản:

+ Tổng số thuốc lá hút hàng ngày.

+ Độ sâu của việc hít vào.

+ Thời gian nghiện hút.

+ Hàm lượng nicotine chứa trong thuốc lá.

– Ngoài ra, còn 2 nhân tố khác cũng góp phần không nhỏ vào việc gia tăng nguy cơ bị ung thư phổi là chất thải công nghiệp và không khí ô nhiễm vỗn chứa chất gây ung thư, trong đó phải kể đến chất thạch miên (asbestos), uranium, arsenic, nickel, iron oxides. Chromium, bụi radioactive và bụi than đá (coal).

Dấu hiệu và triệu chứng

Thông thường, thời kì đầu của bệnh ung thư phổi không có dấu hiệu đặc trưng để nhận biết. Tiến trình ung thư phổi phát triển âm thầm và kéo dài, trải qua nhiều năm. Triệu chứng xuất hiện vào giai đoạn muộn gồm có:

– Với ung thư biểu bì và ung thư tế bào mảnh, người hút thuốc thường bị ho, khản giọng, khò khè, khó thở, khái huyết hay ho ra máu và đau ngực.

– Với ung thư tuyến và ung thư tế bào lớn, bệnh nhân thường hay sốt, suy nhược, sụt cân nhanh, biếng ăn và cảm thấy đau vai.

Hơn nữa, chức năng hô hấp của người mắc bệnh ung thư phổi bị nhiễu loạn hơn một cách rõ rệt. Khối u trong phổi cũng có thể làm thay đổi sản lượng hormones giữ nhiệm vụ điều hòa chức năng cơ thể hoặc ổn định nội môi. Đối với các nhà chuyên môn, phân tích qua dữ kiện thay đổi này cho thấy kết quả hội chứng loạn hormone do khối u phô bày dưới dạng:

– Chứng đàn ông to vú do hậu quả từ ung thư tế bào lớn.

– Chứng xương khớp phì đại tổn thương phổi, vì mức độ hormone tăng tiết bất thường làm xói mòn lớp sụn khiến cho xương và khớp đau, là hậu quả từ ung thư tế bào lớn và ung thư tế bào tuyến.

– Hội chứng Cushing và hội chứng carcinoid syndrome là hậu quả từ ung thư mảnh. Chứng tăng calci-huyết là hậu quả từ những u biểu bì. Những triệu chứng di căn của tế bào ung thư cũng gây xáo trộn khá rõ nét, tùy thuộc vào tác động của khối u trong ngực nằm xa hay nằm gần các cấu trúc trọng yếu. Chẳng hạn:

– Tắc nghẽn phế quản sẽ kèm theo: ho ra máu, xẹp phổi, viêm phổi, khó thở.

– Xâm nhập vào thần kinh sẽ làm giọng nói bị khàn khàn, tắt tiếng do liệt dây thanh quản.

– Xâm nhập thành ngực sẽ cảm thấy ngực đau như dùi đâm, tình trạng khó thở càng gia tăng, đau vai khủng khiếp lan xuống tới cánh tay.

– Xâm nhập vào mạch bạch huyết khu trú sẽ gây ra ho, ho ra máu, hơi thở có tiếng rít, tràn dịch màng phổi.

– Xâm nhập vào thần kinh cơ hoành sẽ gây khó thở, đau vai, làm tê liệt một bên cơ hoành tạo sự cử động trái ngược với ý muốn.

– Ép vào thực quản sẽ thấy hiện tượng khó nuốt.

– Tắc nghẽn tĩnh mạch chủ sẽ làm gân xanh tĩnh mạch căng nở lớn và mặt, cổ, lực, lưng đều sưng phù.

– Hệ lụy đến màng ngoài tim sẽ gây tràn màng ngoài tim, chèn ép, loạn nhịp.

– Hệ lụy đến thần kinh giao cảm ngực cổ sẽ thấy con ngươi của mắt co nhỏ lại, còn gọi là hẹp đống tử, mi mắt bị xệ còn gọi là sa mi và giảm tiết xuất mồ hôi.

Điều cần nhớ, khi ung thư phổi di căn ra xa sẽ làm liên lụy đến bất kỳ bộ phận nào trong cơ thể và hệ thống trung tâm thần kinh, gan, xương là những nơi thường bị tấn công nhất.

 Chuẩn đoán

Ung thư phổi là loại bệnh được các nhà chuyên môn truy tầm hăng say nhất, nhưng sự chuẩn đoán chính xác cần đòi hỏi nhiều bằng chứng gồm các phương pháp sau đây:

– Chụp X-ray ngực: Thường cho thấy trước hết là sự thương tổn, nhưng phải chờ trên 2 năm trước khi xảy ra một vài hiện tượng đáng ngờ mới khám phá được. Nó cũng có thể phô bày luôn kích thước một khối u tại vị trí nào đó trong hai buồn phổi.

– Xét nghiệm đờm theo tế bào học: Cần một mẫu đờm lấy từ phổi và nhánh khí-phế quản khạc ra khi ho. Phương pháp này đáng tin cậy đến 75%. Tuy nhiên, chất kích dịch từ hốc mũi hay nước bọt là không đúng, không chính xác.

– Quan sát ngực trên tia X cắt lớp: Cách này giúp mô tả kích thước và sự kiên hệ chung quanh cấu trúc của khối u.

– Soi phế quản: Có thể định vị được nơi khối u tạo hình.

– Làm sinh thiết: Lấy một mẫu nhỏ trong phổi để xét nghiệm. Phương pháp này cho kết quả chắc chắn đến 80%. Sinh thiết mô cũng cho kết quả đáng tin cậy tương tự.

– Thủ thuật chọc ngực: Nhầm khảo sát hóa chất và tế bào học về tràn dịch màng phổi.

– Ngoài ra, còn cần nghiên cứu thêm bằng phương pháp nội soi trung thất tiền phẫu thuật hoặc thủ thuật mở trung thất nhằm tìm kiếm sự hệ lụy về hạch bạch huyết tại khu vực trung thất xem có nên cắt bỏ phổi hay không. Các thí nghiệm khác nữa cũng phát hiện được sự di căn qua khảo sát xương, tủy xương, não và ổ bụng.

Theo Y học luận trị

Like và Share nếu nội dung hữu ích!

Ý kiến bạn đọc

Bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Khiêu trị phép

Thở theo phương pháp khí công

Tứ khí điều thần luận (Trích: Hoàng Đế nội kinh – Tố Vấn Kinh)

Y huấn cách ngôn